Dịch vụ seo - Quảng cáo trực tuyến hiệu quả - Đào tạo seo - Khóa học Seo miễn phí giá seo website tốt nhất HCM. quảng cáo Google Adwords giá rẻ ổn định, Hướng dẫn Seo,

công ty seo

Quy trình làm gốm sứ hiện đại

Quy trình hoàn thiện sản phẩm gốm sứ, một trong những quy trình phức tạp và nếu hỏng một giai đoạn sẽ làm hỏng toàn bộ sản phẩm.
Quy trình
Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".

Quá trình tạo cốt gốm

Chọn đất
Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm. Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng Bồ Bát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây.

Xử lý, pha chế đất

Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau.

Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là "bể đánh" dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng). Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra). Khi đất đã "chín" (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng. Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng" hay "bể lọc". Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng.

Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", người Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là "bể ủ". Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất). Thời gian ủ càng lâu càng tốt.

Tạo dáng

Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng". Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương Tây. Tuy thế, kỹ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa. "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm.

Phơi sấy và sửa hàng mộc

Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần.

Sản phẩm mộc đã định hình cần đem "ủ vóc" và sửa lại cho hoàn chỉnh. Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bàn xoay vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân "vóc" cho đất ở chân "vóc" chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là "lùa"). Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách...), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm. Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bộ", phải dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bàn".


Liên hệ mua gốm sứ:
Công Ty TNHH MTV Gốm Sứ Toàn Thắng 
Địa Chỉ : 55/1 Kp Bình Phú, P. Bình Chuẩn, TX Thuận An, Bình Dương
Điện thoại: 0650.378.9338 - Fax: 0650.378.9338
Tags: Pottery & Ceramic

Kỹ thuật làm đồ gốm 3 màu đời Đường

Sản xuất đồ gốm là một trong những phát minh lớn của loài người trong thời tiền sử. Nhờ thiên nhiên ưu đãi, nguồn khoáng sản phong phú, người Trung Quốc đã biết chế tạo đồ pottery ngay từ cuối thời kỳ đồ đá cũ.
Vào thời kỳ nhà Đường, kỹ thuật sản xuất gốm sứ của Trung Quốc phát triển rất nhanh. Đồ gốm tráng men 3 màu đời Đường là mặt hàng mỹ nghệ đại diện cho sự phát triển đỉnh cao trong giai đoạn này. Chúng mang những đặc điểm nghệ thuật của tranh thủy mặc, tượng nặn. Ngoài ra, các sản phẩm gốm còn được phủ nước men lên trên. Sau khi được nung trong nhiệt độ cao, men ba màu hòa vào nhau làm cho người xem cảm nhận được sự rực rỡ nhiều màu.
Đồ gốm tráng men 3 màu đời Đường đã được sản xuất trong suốt triều đại nhà Đường từ thế kỉ thứ VII đến thế kỉ thứ VIII. Những đồ gốm này nổi tiếng với màu sắc rực rỡ và phần lớn chúng được giới quý tộc sử dụng như đồ trang trí trong nhà và thậm chí được dùng để mai táng người chết. Các kỹ thuật làm đồ gốm cổ xưa ở đây đã bị biến mất từ lâu. Vì thế, việc phục chế được những kỹ thuật làm đồ gốm bị mai một này đã trở thành tài sản quý giá của quốc gia.
Ông Cao Thủy Vượng, một thợ gốm Trung Quốc tài giỏi 52 tuổi, là người đã thành công trong việc phục chế kỹ thuật làm đồ gốm 3 màu đời Đường. Ông Cao là nghệ nhân duy nhất trên thế giới có thể tạo được đồ gốm tráng men 3 màu đời Đường chính xác đến mức hoàn hảo. Nhờ vào chất lượng của các tác phẩm, ông Cao đã được UNESCO cấp giấy chứng nhận là nghệ nhân mỹ nghệ dân gian vào năm 1996.
Trong tất cả các kỹ thuật mà ông Cao đã sử dụng có 3 đặc điểm chính.
Các vật liệu và cách đúc, nặn đồ gốm
Vật liệu tốt là yếu tố then chốt trong kỹ thuật chế tác đồ gốm. Đá đất sét là một trong những vật liệu chính mà ông đã sử dụng. Ông Cao thích dùng loại đá đất sét màu tối hơn cho các sản phẩm của mình.
Đá đất sét được nghiền nát thành bột rồi được hòa trộn với nước trong trục lăn. Thành phần cấu tạo của các vật liệu được điều chỉnh tùy theo mỗi sản phẩm. Sau đó, nước bùn được xả xuống thùng chứa để lớp đất sét hấp thu nước. Nhờ thế, lớp đất sét trở nên dày hơn, dễ dàng định dạng và đồ gốm ít bị vỡ ra trong lò nung.
Khi làm đồ gốm, điều quan trọng nhất là phải thể hiện được linh hồn và nét đặc sắc của triều đại đời Đường thông qua các hình dạng đồ vật. Các món đồ gốm hình người và con vật là chủ đề chính thường được sử dụng trong gốm tráng men 3 màu đời Đường.
Sức nóng 1000 độ trong lò nung sẽ biến màu đen của đất sét thành màu trắng. Theo ông Cao, đất sét càng trắng thì màu sắc trang trí xuất hiện trên đồ gốm càng đẹp hơn.
Nước men
Nước men đã tạo ra màu sắc cho đồ gốm tráng men 3 màu đời Đường. Nước men được bào chế từ những kim loại như côban, kẽm theo những tỉ lệ rất chính xác để tạo ra dung dịch hòa tan.
Sự hoàn thiện sản phẩm thế nhưng một số công đoạn của quy trình cuối cùng không thể được tiết lộ
Một kỹ thuật làm đồ gốm đời Đường bị biến mất từ lâu, nay được phục hồi rất hoàn hảo nhờ vào niềm đam mê và lòng nhiệt huyết của ông Cao. Những tác phẩm của ông tiếp tục tỏa sáng và phản chiếu được quá khứ hơn 1000 năm từ món đồ gốm tráng men 3 màu đời Đường đầu tiên được làm ra. Ông Cao luôn hi vọng kỹ thuật này, truyền thống này sẽ được truyền lại cho các thế hệ sau để nghệ thuật sản xuất đồ tráng men 3 màu đời Đường của Trung Quốc tồn tại mãi mãi.

Quá trinh nung gốm ở Bát Tràng

Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ ceramic. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn.

I) Lò nung:

1) Lò ếch: là kiểu lò gốm cổ nhất được sử dụng một cách phổ biến ở khắp mọi nơi, hiện nay mất hết dấu tích nhưng qua các nguồn tư liệu gián tiếp vẫn có thể hình dung được lò có hình dáng giống như một con ếch dài khoảng 7 mét, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 3-4 mét, cửa lò rộng khoảng 1,2 mét, cao 1 mét. Đáy lò phẳng nằm ngang, vòm lò cao khoảng từ 2 mét đến 2,7 mét. Bên hông lò có một cửa ngách rộng 1 mét, cao 1,2 mét phục vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm. Lò có 3 ống khói thẳng đứng cao 3-3,5 mét. Trong mỗi bầu lò người ta chia thành 5 khu vực xếp sản phẩm là: hàng dàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt. Trong quá trình lâu dài sử dụng lò ếch, để khắc phục nhược điểm của lớp đất gia cố bên trong và sàn lò, người ta thay vào đó lớp gạch mộc và vữa ghép lại.

2)Lò đàn: Lò đàn xuất hiện vào giữa thế kỉ 19. Lò đàn có bầu lò dài 9 mét, rộng 2,5 mét, cao 2,6 mét được chia thành 10 bích bằng nhau. Vị trí phân cách giữa các bích là hai nống (cột). Cửa lò rộng 0,9 mét, cao l mét. Bích thứ 10 gọi là bích đậu thông với buồng thu khói qua 3 cửa hẹp. Để giữ nhiệt, bích lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói. Lớp vách trong ghép gạch Bát Tràng, lớp vách ngoài xây bằng gạch dân dụng. Mặt dưới của cật lò gần như bằng phẳng còn mặt trên hình vòng khum. Hai bên cật lò từ bích thứ 2 đến bích thứ 9 người ta dấu mở hai cửa nhỏ hình tròn, đường kính 0,2 mét gọi là các lỗ giòi để ném nhiên liệu vào trong bích. Riêng bích đậu người ta mở lỗ đậu (lỗ giòi rộng hơn nửa mét). Nhiệt độ lò đàn có thể đạt được 1250–1300°C.

3)Lò bầu, hay lò rồng: Xuất hiện vào đầu thế kỉ 20. Lò bầu chia ra làm nhiều ngăn, thường có từ 5 đến 7 bầu (cũng có khi đến 10 bầu). Bầu lò có vòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như những mảnh vỏ sò úp nối với nhau. Người ta dùng gạch chịu lửa đề xây dựng vòm cuốn của lò. Lò dài khoảng 13 mét cộng với đoạn để xây ống khói ở phía đuôi dài 2 mét thì toàn bộ độ dài của lò tới 15 mét. Độ nghiêng của trục lò khoảng 12-15⁰. Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt tới 1300°C.

4)Lò hộp hay lò đứng: Khoảng năm 1975 trở lại đây người Bát Tràng chuyển sang xây dựng lò hộp để nung gốm. Lò thường cao 5 mét rộng 0,9 mét, bên trong xây bằng gạch chịu lửa giống như xây tường nhà. Lò mở hai cửa, kết cấu đơn giản, chiếm ít diện tích, chi phí xây lò không nhiều, tiện lợi cho quy mô gia đình. Vì thế hầu như gia đình nào cũng có lò gốm, thậm chí mỗi nhà có đến 2, 3 lò. Nhiệt độ lò có thể đạt 1250°C.


Lò hộp (lò đứng)nung gốm

5)Lò gas lò tuynen (lò hầm, lò liên tục): Trong những năm gần đây, Bát Tràng xuất hiện thêm những kiểu lò hiện đại là lò con thoi, hoặc lò tuynen, đăc biệt được sử dụng nhiều là lò ga với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu. Trong quá trình đốt, nhiệt độ được theo dõi qua hỏa kế, việc điều chỉnh nhiệt độ mà thực chất là quá trình tăng giảm nhiên liệu được thực hiện bán tự động hoặc tự động, công việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là những lò truyền thống của Bát Tràng.


Lò ga nung gốm

II)Bao nung:

Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng một loại gạch vuông ghép lại làm bao nung. Loại gạch này sau hai ba lần sử dụng trong lò đạt đến độ lửa cao và cứng gần như sành (đó chính là gạch Bát Tràng nổi tiếng).

Gần đây bao nung thường được làm bằng đất sét chịu lửa có mầu xám sẫm trộn đều với bột gạch hoặc bao nung hỏng nghiền nhỏ (gọi là sa mốt) với tỉ lệ 25–35% đất sét và 65–75% sa mốt. Người ta dùng một lượng nước vừa đủ để trộn đều và đánh nhuyễn chất hỗn hợp này rồi đem in (dập) thành bao nung hay đóng thành gạch ghép ruột lò. Bao nung thường hình trụ để cho lửa có điều kiện tiếp xúc đều với sản phẩm. Tuỳ theo sản phẩm mà bao nung có kích thước không giống nhau nhưng phổ biến hơn cả là loại có đường kính từ 15 đến 30 cm, dày 2–5 cm và cao từ 5 đến 40 cm. Một bao nung có thể dùng từ 15 đến 20 lần. Nếu sản phẩm được đốt trong lò con thoi hoặc lò tuynen, thường không cần dùng bao nung

III)Nhiên liệu bao gồm;

Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò, sau đó Bát Tràng dùng kết hợp rơm rạ với các loại "củi phác" và "củi bửa" và sau nữa thì củi phác và củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng. Củi bửa và củi phác sau khi đã bổ được xếp thành đống ngoài trời, phơi sương nắng cho ải ra rồi mới đem sử dụng. Đối với loại lò đàn, tại bầu, người ta đốt củi phác còn củi bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò.

Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn củi chỉ để gầy lò. Than cám đem nhào trộn kĩ với đất bùn theo tỷ lệ nhất định có thể đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô. Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể dùng được ngay.

VI)Chồng lò:

Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào lò nung. Việc xếp sản phẩm trong lò nung như thế nào là tuỳ theo sản phẩm và hình dáng kích, cỡ của bao nung trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để không gian trong lò vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt cao. Bởi cấu tạo của mỗi loại lò khác nhau nên việc chồng lò theo từng loại lò cũng có những đặc điểm riêng. Đối với loại lò ếch, người ta xếp sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò, còn đối với loại lò đàn thì người ta xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ 10 (riêng bích thứ 10 vì lửa kém nên sản phẩm thường để trần không cần có bao nung ở ngoài). Ở bầu cũi lợn (bầu đầu tiên) nơi giành để đốt nhiên liệu, có nhiệt độ cao nên đôi khi người ta xếp các loại sản phẩm trong các bao ngoại cỡ. Sản phẩm được xếp trong lò bầu giống như lò đàn. Riêng đối với lò hộp, tất cả các sản phẩm đều được đặt trong các bao nung hình trụ không đậy nắp và xếp chồng cao dần từ đáy lên nóc, xung quanh tường lò và chỗ khoảng trống giữa các bao nung đều được chèn các viên than.

Làng Bát Tràng xưa có các phường Chồng Lò, mỗi phường thường gồm 7 người (3 thợ cả, 3 thợ đệm và 1 thợ học việc). Họ chia thành 3 nhóm trong đó mỗi nhóm có 1 thợ cả và 1 thợ đệm, còn thợ học việc có nhiệm vụ bưng bao nung và sản phẩm mộc phục vụ cho cả 3 nhóm trên. Nhóm thứ nhất có nhiệm vụ chồng đáy (xếp bao nung và sản phẩm ba lớp từ đáy lên), nhóm thứ hai có nhiệm vụ chồng giữa (xếp ba lớp giữa), còn nhóm thứ ba là nhóm gọi mặt (xếp ba lớp cuối cùng ở vị trí cao nhất trong lò). Phường Chồng Lò ở Bát Tràng chủ yếu tập hợp những người thợ gốm ở Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Tây) và Vân Đình (Mỹ Đức, Hà Tây) chuyên phục vụ chơ các lò gốm Bát Tràng.

V)Đốt lò:

Nhìn chung đối với các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu thì quy trình đốt lò đều tương tự nhau và với kinh nghiệm của mình, người "thợ cả" có thể làm chủ được ngọn lửa trong toàn bộ quá trình đốt lò. Ở lò đàn khoảng một nửa ngày kể từ khi nhóm lửa người ta đốt nhỏ lửa tại bầu cũi lợn để sấy lò và sản phẩm trong lò. Sau đó người ta tăng dần lửa ở bầu cũi lợn cho đến khi lửa đỏ lan tới bích thứ tư thì việc tiếp củi ở các bầu cũi lợn được dừng lại. Tiếp tục ném củi bửa qua các lỗ giòi. Người xuất cả bằng kinh nghiệm của mình kiểm tra kỹ các bích và ra lệnh ngừng ném củi bửa vào bích nào khi biết sản phẩm ở bích đó đã chín. Càng về cuối sản phẩm chín càng nhanh. Khi sản phẩm trong bích đậu đã sắp chín thì người thợ cả quyết định ném dồn dập trong vòng nửa tiếng khoảng 9-10 bó củi bửa qua lỗ đậu rồi kết thúc việc tiếp củi. Trong phường đốt lò, người phường trưởng (xuất cả) phụ trách chung về kỹ thuật, hai người thợ đốt ở cửa lò (đốt dưới), bốn người chuyên ném củi bửa qua cấc lỗ giòi (đốt trên).

Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò.


Đối với lò đứng, việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều vì khi hoàn tất khâu chồng lò cũng có nghĩa là đã kết thúc việc nạp nhiên liệu. Thế nhưng do đặc điểm của lò, người thợ đốt lò dù có dầy dạn kinh nghiệm cũng rất khó có thể làm chủ được ngọn lửa, đây thực sự là vấn ra khó khăn nhất trong khâu kĩ thuật ở làng Bát Tràng. Người ta dùng gạch chịu lửa bịt cửa lò lại rồi nhóm lò bằng củi. Lửa cháy bén vào than và bốc từ dưới lên. Than trong lò cháy hết cũng là lúc kết thúc công việc đốt lò. Thời gian đốt lò kể từ lúc nhóm lửa đến khi hoàn toàn tắt lửa kéo dài khoảng 3 ngày 3 đêm. Sau khi lò nguội, sản phẩm ra lò được đánh giá phân loại và sửa chữa lại các khuyết tật (nếu có thể được) trước khi đem ra phân phối sử dụng.

Liên hệ mua gốm sứ:
Công Ty TNHH MTV Gốm Sứ Toàn Thắng 
Địa Chỉ : 55/1 Kp Bình Phú, P. Bình Chuẩn, TX Thuận An, Bình Dương
Điện thoại: 0650.378.9338 - Fax: 0650.378.9338
Tags: Pottery & Ceramic

Một dòng gốm sứ bị lãng quên...

Trong kho tàng làng sứ Việt Nam, sành sứ Móng Cái hiện nay chỉ được nhắc tới với những dòng ngắn ngủi như những tiếng ta thán cho một ngành nghề tinh hoa đã đi vào quên lãng. Đối với dân sưu tầm thì đồ sành sứ Móng Cái được đánh giá như một loại đồ không hấp dẫn, rẻ tiền và nếu có dự định đầu tư thì xem ra không đúng chỗ...

Là một dòng sản phẩm truyền thống, sành sứ Móng Cái mang nhiều dáng dấp gốm sứ Nam Trung Hoa với nhiều chủng loại như: ấm chén, bát đĩa, ấm tích, liễn, âu, lọ, gối, đèn, bình vôi, điếu. Ngoài ra, còn có một số lượng đáng kể sản phẩm có kích thước lớn như: choé, bình, chum, đôn, thống. Một số nhà nghiên cứu gốm sứ ở Cảnh Đức Trấn đã ngạc nhiên khi nhìn thấy những sản phẩm kích thước lớn này và nhận xét rằng, nếu ở Trung Quốc thì đây là sản phẩm của “lò Tướng Quân”.

Các sản phẩm của sứ Móng Cái có màu sắc không trắng trong hay trắng đục, cũng không phải màu xanh ngọc thạch, mà là màu trắng phớt xanh. Màu hoa trang trí chủ yếu là màu lam với các sắc độ đậm, nhạt, tươi, sẫm khác nhau được tạo ra bằng màu xanh cô ban.
Choé - Một trong những sản phẩm sứ Móng Cái.
Choé - Một trong những sản phẩm sứ Móng Cái.
Về hoa văn trang trí và nội dung cũng rất phong phú. Ngoài các bức tranh vẽ phong cảnh, sơn thuỷ lâu đài, các loại hoa kiểu như hoa sen, cúc, mẫu đơn, phù dung, mai, tùng, trúc, chim trĩ, chim sẽ, chim công, chim ưng, hạc, còn có tứ linh rồng, phượng, lân, rồng. Đáng chú ý là nội dung các bức tranh thường có ý thức đạo giáo, nho giáo và các văn nhân nho sĩ nổi tiếng trong lịch sử và khá nhiều bản vẽ là minh hoạ các sự kiện, các điển cố. Một số sản phẩm dưới đáy hoặc vai ghi một số ký hiệu như con số VI, chữ +, các chữ Pk, Ta v.v.

Theo Hiệp hội gốm Việt Nam, hoạ pháp của gốm sứ Móng Cái được phân theo các thời kỳ rõ rệt. Thời kỳ trước năm 1950, gốm sứ Móng Cái có những đường nét hoa văn lão luyện, bút pháp cứng cáp, sắc thanh hoa không quá chói; nước men trắng có sắc xanh nhạt - đặc trưng của những sản phẩm được nung bằng lò củi. Từ năm năm 1950 đến năm 1969, nét vẽ bị thô phác, bắt đầu có dấu hiệu của sự thoái hoá. Sắc cô ban đã có ánh chói của cô ban nhân tạo, cốt thai kém độ mịn, xám đục tuy nước men vẫn có phần đảm bảo chất lượng ban đầu. Trên phương pháp tạo hình, sành trắng Móng Cái có đủ mọi loại hình thương phẩm: từ bát, đĩa, chén, lò hương, ấm trà, lọ hoa, cho đến choé, bình, chum vại, thống, chậu cây, đôn. Giai đoạn này cũng đã thấy xuất hiện những sản phẩm phục vụ cho công nghiệp Việt Nam như các cọc điện sành trắng... Ở giai đoạn cuối cùng (từ 1969 đến 1978), hoạ pháp là sự chống đỡ yếu ớt biểu hiện qua những cốt thai, chất men hay những hình vẽ, biểu hiện của một thời chiến khó khăn và nó đã tuyệt đối chấm dứt hoạt động cuối năm 1978, khi mà chiến sự vùng biên giới Việt Trung bắt đầu. Lúc đó, toàn bộ khu lò Móng Cái đã được chuyển về Quảng Yên và sự hoạt động yếu kém của nó đã thực sự chấm dứt vào năm 1985.

Theo những di vật còn sót lại, khu lò gốm sứ Móng Cái được hình thành cách đây khoảng 130 năm và toạ lạc tại phố Lò Bát, phường Trần Phú (Móng Cái) ngày nay. Khu lò do các chủ lò và thợ gốm người Hoa sang Móng Cái dựng lò lập nghiệp và phát triển mạnh vào nửa đầu thế kỷ XX.

Lò nung gốm sứ Móng Cái thời kỳ này thuộc loại lò bầu (tức lò rồng), có các buồng lò riêng biệt nối tiếp nhau dài khoảng 20 - 80m và có khoảng 18 - 20 buồng lò. Với công nghệ lò rồng nung, 
Ceramic Móng Cái đã được giới chuyên gia khẳng định là địa chỉ đầu tiên ở Việt Nam áp dụng loại công nghệ này, sau đó mới phát triển vào Bát Tràng và Cây Mai vào đầu thế kỷ XX.
Bá Khang

Văn hóa gốm sứ và ẩm thực của thành phố Limoges - Pháp

Pháp là quốc gia rất xem trọng văn hóa ẩm thực. Người dân nước này rất quan tâm đến các dụng cụ đựng thức ăn. Vào thế kỷ 18, thành phố Limoges trở thành nơi chuyên sản xuất và cung cấp các loại đồ Ceramic, nhất là dụng cụ đựng thức ăn cho các nhà hàng. Những sản phẩm ở đây luôn đạt chất lượng và tính thẩm mỹ cao. Ngay cả hoàng đế Napolepon cũng thích sử dụng các loại ly, tách, chén, dĩa được sản xuất ở Limoges.
Mỗi sản phẩm gốm sứ đều phải trải qua 2 lần nung. Ở lần nung lần thứ nhất, các sản phẩm thường được nung 24 tiếng đồng. 12 giờ đầu nung ở nhiệt độ 960 độ C, 12 tiếng đồng hồ sau sẽ giảm dần. Trong lần nung lần thứ 2, nhiệt độ trong lò là 1400 độ. Sau khi được nung lần thứ 2 ở nhiệt độ 1400 độ trong 24 giờ đồng hồ, sản phẩm mới được xem là hoàn tất. 
Gốm sứ sản xuất ở Limoges
Những miếng hoa văn sau khi ngâm trong nước nóng ít lâu sẽ được người thợ dán lên đồ gốm. Sau đó, họ mang các sản phẩm đã trang trí đi nung thêm 1 lần nữa. Lần nung này không phải để sản phẩm được sáng bóng, bền chắc mà mục đích là in hoa văn trang trí. 
Người Pháp, đặc biệt là người ở những thế kỷ trước rất thích bộ ria dài. Đàn ông xem bộ ria là sự quyến rũ của họ. Tuy nhiên, trong cuộc sống họ dễ gặp nhiều bất tiện, nhất là khi uống trà, cà phê. Thế là một loại tách giúp tránh làm dơ bẩn bộ ria ra đời. Nó được thiết kế có thêm một miếng gốm sứ che bớt phần môi trên. Nhờ vậy, bộ ria sẽ không bị dính thức uống. Những sản phẩm gốm sứ tinh xảo, chất lượng ở Limoges rất thích hợp với phong cách bày trí và đựng thức ăn của các nhà hàng sang trọng.
Limoges là thành phố không chỉ nổi tiếng với nghề làm gốm sứ mà còn được biết đến với những món thịt bò đặc sắc. Món bò Carpaccio là món thịt bò sống, thái thật mỏng rồi rưới nhiều dầu ô liu vào cùng một ít nước chanh, phô mai, nấm và hành ngò. Bò Carpaccio là món ăn sống khi thịt còn lạnh. Vì vậy, thịt bò thường được cho vào tủ lạnh trước khi mang ra phục vụ thực khách. 
Món bò Carpaccio là món thịt bò sống, thái thật mỏng rồi rưới nhiều dầu ô liu vào cùng một ít nước chanh, phô mai, nấm và hành ngò
Trong lúc thưởng thức các món thịt bò, bạn nhất định phải uống một ít rượu vang thì bữa ăn mới hoàn hảo. Pháp là đất nước chuyên sản xuất ra các loại rượu vang danh tiếng thế giới. Nếu đến đây dùng món ngon mà không thưởng thức cùng với rượu vang thì quả là điều đáng tiếc.
Gia Nữ

Gốm làng Ngòi.

 Nghề gốm sứ được đánh dấu mốc ở Bắc Giang từ vài thế kỷ trước, từ những sản phẩm của làng Gốm vùng Châu thổ Sông Hồng, nằm ven sông Cầu- Làng Thổ Hà nổi danh 1 thời; cho đến những sản phẩm dòng gốm riêng- gốm làng Ngòi, Sứ Quảng Minh, Gốm Sứ Bắc Giang…

     Tất cả đều mang đậm phong cách dân gian và nét văn hoá làng quê đặc sắc được kết tinh trong mỗi sản phẩm. Đến nay, không chỉ được vinh danh thị trường trong nước mà còn chắp cánh bay xa ở nhiều nước trên thế giới.

Gốm làng Ngòi.

     Tìm về Xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, cách HN chừng khoảng 70km. Nơi đây có nghệ nhân trẻ tài năng, tâm huyết- Lưu Xuân Khuyến đã thổi tình yêu vào đất- Người khai sinh, làm sống Lại 1 nghề Gốm truyền thống -  Gốm Làng Ngòi.

pottery, cameric


Nghệ nhân Lưu Xuân Khuyến

      So với cả chục thương hiệu gốm cổ truyền Việt Nam thì gốm Làng Ngòi còn rất mới mẻ. Tuy nhiên Gốm làng Ngòi đã sớm khẳng định được thương hiệu bởi nét độc đáo, giản dị, chân chất, nhưng đậm đà bản sắc tạo nên phong cách riêng đã được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng.

     Gốm làng Ngòi luôn có hai mầu đặc trưng là men nước dưa và xương đất. Đặc biệt dưới bàn tay khéo léo và tài hoa của người nghệ sỹ trẻ cùng với niềm đam mê nghề vô tận, đã thổi được cả một kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ vào gốm.

     Khác với Bát Tràng chỉ vẽ và trang trí bằng mầu, Phù Lãng chỉ vuốt và dội men, gốm làng Ngòi được trang trí bằng hoạ tiết hoa văn đắp nổi thể hiện sinh động trên chất liệu gốm nâu sành rất đặc trưng do chính tay họa sỹ tạo nên. Sản phẩm gốm xù xì mang đậm phong cách dân gian và nét văn hoá làng quê đặc sắc.

     Nét riêng đầu tiên khắc ấn, ghi tên cho gốm Làng Ngòi có lẽ được bắt đầu từ nội dung của nó. Các sản phẩm đa dạng, phong phú đều đậm tâm hồn Việt. Đó là những bình, lọ hoa nghệ thuật, đèn vườn, gạch trang trí nội ngoại thất với hoạ tiết hoa văn như hoa sen, lá khoai, lá lúa, lá dáy, hoạ tiết thổ cẩm...

     Các hoa văn này đều là hoa văn đắp nổi. Dòng sản phẩm độc đáo thứ hai của Gốm làng Ngòi là gốm tượng dân gian, hiện nay đang rất được ưa chuộng với những tượng Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc... Nhưng có lẽ, phần độc đáo và được ưa chuộng nhất, cũng là thế mạnh nổi bật của Gốm Làng Ngòi là tranh tường khổ lớn đắp nổi.

      Mảng tranh gốm ghép dựa trên nền một số dòng tranh nổi tiếng đang có nguy cơ thất truyền như tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống và cả những nét văn hóa vùng miền trên cả nước.

     Khoác trên mình chiếc áo văn hoá dân gian rất cổ truyền, nhưng gốm Làng Ngòi lại tạo ra cho mọi người cái lạ, cái ngộ nghĩnh. Người xem sản phẩm gốm làng Ngòi bị cuốn hút bởi nét mộc mạc, dân dã, gần gũi nhưng vô cùng độc đáo ở hoạ tiết trang trí.

     Gốm làng Ngòi là sự kết tinh bởi sự đam mê nghệ thuật, sự cần mẫn cùng tình yêu quê hương, đất nước, yêu nền văn hoá dân gian cùng đôi bàn tay tài hoa sáng tạo. Tất cả tạo nên gốm Làng Ngòi một phong cách riêng, độc đáo không bị hòa lẫn.

     Đến nay, gốm làng Ngòi không chỉ được “biết đến” mà đã trở thành 1 thương hiệu gốm uy tín, ghi danh vào làng Gốm Việt, thương hiệu Gốm làng Ngòi không chỉ thị trường trong nước biết đến mà còn chiếm được sự mến mộ của bè bạn quốc tế. Sản phẩm Gốm Làng Ngòi được trưng bày tại hàng trăm cuộc hội chợ triển lãm, đặc biệt Gốm Làng Ngòi đã xuất hiện tại triễn lãm Hình ảnh APEC và Di sản văn hóa Việt Nam (2007), được Hiệp hội làng nghề VN công nhận là Sản phẩm tinh hoa làng nghề. 

     Sản phẩm gốm làng Ngòi đã xuất hiện tại nhiều công trình ở khắp mọi miền đất nước cùng nhiều mẻ hàng xuất sang Nhật, Ấn Độ, Ai Cập, châu Âu… Năm 2007, Lưu Xuân Khuyến vinh dự được nhận giải thưởng Lương Định Của cho Nhà nông trẻ xuất sắc do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao tặng.
Sưu tầm.
Tags: Pottery & Ceramic

'Giữ lửa' cho nghề gốm sứ

Ở Bình Dương, thời cực thịnh có trên 500 cơ sở lớn nhỏ làm gốm sứ. Nhưng trên thực tế, do tốc độ phát triển công nghiệp và sự khắc nghiệt của thị trường, hiện chỉ còn khoảng 120 doanh nghiệp tồn tại với nghề.

Trong đó có khoảng 20 - 30 doanh nghiệp xuất khẩu, chiếm khoảng 70% – 80% kim ngạch xuất khẩu gốm sứ trên cả nước. Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, đã có rất nhiều làng nghề, nghệ nhân cống hiến cả đời tâm huyết để tạo nên một nghề truyền thống lâu năm và phát triển như bây giờ.

Mỗi chủ lò là một nghệ nhân, người nắm giữ cả kho kinh nghiệm và những bí quyết gia truyền. Làng nghề gốm thuộc ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương là một nơi như thế. Khu vực này có khoảng 10 lò gốm đỏ lửa ngày đêm.

"Trước nguy cơ mai một dần các làng nghề gốm sứ, làm sao để thay đổi cho phù hợp với thị trường để "nuôi" sống được người làm nghề, "giữ lửa" tâm huyết để họ tiếp tục gìn giữ nghề. Đó là một vấn đề đặt ra cho địa phương trong việc gìn giữ và thúc đẩy nghề truyền thống này" – Ông Đỗ Khắc Điệp, Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Bình Dương, trăn trở.

"Giữ lửa" cho nghề

Ông Hồ Văn Lớn, năm nay 68 tuổi, gắn bó với nghề gốm hơn 40 năm. Bảy người con của ông đều theo nghề. Khá gầy guộc nhưng động tác làm gốm, bưng gốm ra sân phơi của ông vẫn rất khỏe khoắn. "Ở đây, tôi lãnh tiền theo cái, mỗi cái khạp như vầy được 2.700 đồng. Làm từ 4 - 5 giờ, chiều tối về. Tuy công việc có nặng nhưng làm hoài nên quen rồi. Làm ngày nào ăn ngày ấy, không làm thì không có tiền!".

Ở một góc khác là hai bà cháu Bùi Thị Thuận. Bà Thuận, năm nay 62 tuổi, biết nghề gốm từ khi còn bé. Bà kể: "hai con tôi đều làm nghề gốm. Nghề này khi trời mưa gió thì cực lắm. Hôm nào đau ốm nằm nhà thì nhớ nghề!". Đứa cháu trai luẩn quẩn bên cạnh bà, thỉnh thoảng lại lấy khăn giúp bà vuốt gốm hoặc đem nước uống cho bà.

Người Lao động

Tags: Pottery & Ceramic

EU áp thuế chống phá giá hàng gốm sứ Trung Quốc


Ngày 4/4, các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã nhất trí áp thuế chống bán phá giá đối với hàng Ceramic gia dụng có xuất xứ từ Trung Quốc trong bối cảnh hàng giá rẻ châu Á đang lấn át các sản phẩm địa phương tại thị trường nội khối.

EU thông qua quyết định trên sau khi Ủy ban châu Âu (EC) đề xuất mức thuế chống phá giá mới từ 13,1% đến 36,1%, thấp hơn so với mức 58% mà cơ quan này đưa ra hồi tháng 11 năm ngoái song bị hầu hết các nước thành viên EU bác bỏ.

Theo thông lệ, quyết định mới sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm, bắt đầu từ ngày 15/5 tới sau khi hoàn tất một số bước đi mang tính thủ tục.

Ông Rogier Chorus, thuộc Hiệp hội gốm sứ châu Âu, cho rằng quyết định trên là một tin quan trọng đối với ngành công nghiệp gốm sứ ở Liên minh châu Âu, giúp vực dậy ngành công nghiệp đang suy yếu này của khu vực.

Các công ty sản xuất hàng gốm sứ châu Âu cũng hoan nghênh quyết định này dù mức thuế mới không thể bù đắp được những thiệt hại mà họ phải gánh chịu.

Trong khi đó, Hiệp hội Ngoại thương có trụ sở tại thành phố Brussels của Bỉ lo ngại quyết định áp thuế chống phá giá trên khiến người tiêu dùng EU phải chịu giá cả cao hơn.

EU là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu đồ gốm gia dụng từ Trung Quốc lên tới 728 triệu euro trong năm 2011. Tuy nhiên, EC mới đây cáo buộc một số công ty Trung Quốc bán phá giá hoặc bán với giá thấp một cách phi lý đối với một số sản phẩm; đồng thời đang điều tra 30 trường hợp bán phá giá và trợ giá, bao gồm 19 trường hợp liên quan đến Trung Quốc.

Tháng 9 năm ngoái, EC đã tiến hành cuộc điều tra bán phá giá lớn nhất từ trước đến nay lên tới 21 tỷ euro, liên quan các tấm pin Mặt Trời và linh kiện của các nhà sản xuất Trung Quốc, đồng thời cũng điều tra các cáo buộc về trợ giá./.

(TTXVN)

Đĩa sứ Trung Quốc chứa 2 gói lạ là dụng cụ cờ bạc bịp?


Gom su - Chiếc đĩa bị vỡ rỗng ruột được tách thành 2 lớp, bên trong có 2 gói nhỏ được bọc trong một lớp giấy trông giống như lớp kim loại bạc hoặc nhôm.
Việc gia đình bà Nguyễn Thị Thơ (xóm 4, Phú Đô, Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội) phát hiện 2 gói lạ trong một chiếc đĩa của Trung Quốc đã khiến dư luận hoang mang lo lắng. Một số người quanh khu vực nhà bà Thơ hoặc những người biết thông tin về 2 gói lạ đã đập thử những chiếc đĩa Trung Quốc để xem có vật lạ bên trong hay không?

Chiếc đĩa lạ

Chiếc đĩa có hai gói lạ được phát hiện khi cô cháu gái hơn 2 tuổi của bà Thơ trong lúc mở tủ lạnh lấy thạch ăn bất cẩn làm vỡ. Nhặt chiếc đĩa vỡ lên thì thấy không như những chiếc đĩa bình thường khác. Chiếc đĩa bị vỡ rỗng ruột được tách thành 2 lớp, bên trong có 2 gói nhỏ được bọc trong một lớp giấy trông giống như lớp kim loại bạc hoặc nhôm.

Nhìn bên ngoài thì chiếc đĩa trông giống như nhiều chiếc đĩa khác có in hình bông hoa màu hồng, đằng sau mặt đĩa in chữ “made in China”. Trao đổi với phóng viên, bà Thơ cho biết: Hơn chục năm trước, bà có mua một số đĩa Trung Quốc nhiều hoa văn để đựng đồ thờ, cúng. Sau này, cũng không biết đã thất lạc đi đâu, hiện chỉ còn mấy cái. Chiếc đĩa bị vỡ là một trong số những chiếc mà bà đã mua.

Bình thường, những chiếc đĩa khác có độ dày khoảng 4-5mm nhưng chiếc đĩa lạ trên lại có hai lớp, mỗi lớp chỉ dày chỉ 1,5mm, bên trong có keo mỏng màu vàng đục. Phát hiện chiếc đĩa bất thường, bà Thơ và người thân trong gia đình đã đặt nhiều giả thiết về hai gói lạ trên.

Người cho rằng có khả năng 2 gọi lạ kia là pin để đĩa phát nhạc, người lại bảo đấy là đĩa được dùng để chơi cờ bạc bịp. Nhưng nếu là đĩa phát nhạc, thì từ khi có chiếc đĩa đó, gia đình bà chưa thấy kêu tiếng nhạc nào. Còn nếu là đĩa cờ bạc bịp để chơi xóc đĩa thì phải có lực hút nhưng khi đưa nam châm vào thử hai gói lạ đó thì không thấy có bất cứ phản ứng gì.

Bà Thơ đã đập bỏ bát đĩa Trung Quốc
 trong nhà từ khi xảy ra vụ việc.

Có phải chất độc hại?

Bà Thơ cho biết, hàng xóm xung quanh đều hoảng hốt khi biết chuyện chiếc đĩa lạ. Bởi câu chuyện sử dụng hàng hóa Trung Quốc có chứa chất độc hại không phải là câu chuyện bây giờ mới có.

Đã nhiều năm nay, người dân vẫn truyền tai nhau về chuyện giày dép Trung Quốc, thắt lưng da Trung Quốc chứa các hạt lạ. Rồi mới đây nữa là áo ngực Trung Quốc chứa chất lạ. Không những thế, hàng hóa Trung Quốc còn bị một số nước trên thế giới tẩy chay vì có chứa chất gây ung thư hoặc các độc tố ở quá mức cho phép.

Người dân khi biết thông tin về chiếc đĩa lạ còn bàn tán, ngay chính quần áo đồng phục học sinh do Trung Quốc sản xuất cho chính người dân của mình mặc còn chứa độc tố thì khó mà khẳng định rằng hàng hóa Trung Quốc xuất sang Việt Nam không có độc tố. Chính vì những điều đó khiến người dân càng lo lắng về hai gói lạ có trong chiếc đĩa Trung Quốc.

Bà Thơ cho biết: “Tôi và mấy bà hàng xóm đều đem đập bỏ hết bát, đĩa Trung Quốc trong nhà. Tôi mới đi mua một loạt đồ Bát Tràng, Hải Dương về sử dụng. Nhất quyết không dùng đồ không rõ nguồn gốc xuất sứ nữa”. Tuy nhiên, trong số những chiếc bát đĩa bị đập sau này đều không phát hiện thêm chiếc nào chứa những gói lạ.

Dụng cụ cờ bạc bịp thường có mạch điện.

Hay dụng cụ cờ bạc bịp?

Thực tế, Trung Quốc cũng là nơi sản xuất các dụng cụ đánh bạc bịp. Giả thiết có thể chiếc đĩa là dụng cụ đánh bạc cũng được đặt ra. Thông thường một chiếc đĩa là dụng cụ đánh bạc thường phải có các mạch điện.

Trao đổi về vấn đề này với một chuyên gia giám định Viện khoa học Hình Sự (Bộ Công an) thì được cho biết: Để có thể đưa ra kết luận cuối cùng xem hai chiếc đĩa trên có phải là dụng cụ đánh bạc hay không thì phải có mẫu vật để giám định. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng cho biết với những bát, đĩa dùng để đánh bạc bịp trong trò xóc đĩa thường có mạch điện. Bởi những chiếc bát đĩa mà cơ quan công an từng thu giữ được đều sử dụng công nghệ cảm ứng và truyền tin. Nếu trong chiếc đĩa chỉ có hai gói lạ mà không có bộ mạch thì nhiều khả năng không phải sử dụng để đánh bạc.

Một khả năng khác được đặt ra là hai gói lạ có tác dụng giữ nhiệt cho thức ăn. Ông Phùng Văn Hữu (trưởng ban Quản lý - Phó Chủ nhiệm hợp tác xã sản xuất thương mại và dịch vụ chợ gốm làng cổ Bát Tràng) khẳng định: Một sản phẩm gốm sứ bình thường để cách nhiệt cũng không làm theo kiểu hai lớp như thế, vì lớp ở trong lòng bát quá mỏng dễ gây vỡ khi đựng đồ nóng.

Ông Hữu cho rằng có thể đây là chiếc đĩa được chế tạo đặc biệt để phục vụ một mục đích nào đó. Nếu đĩa chỉ để sử dụng với mục đích bình thường là đựng thực phẩm, thì không phải làm hai lớp như vậy.

Được biết, gia đình bà Thơ đã thông qua cơ quan báo chí nhờ gửi chiếc đĩa tới cơ quan giám định. Cho đến thời điểm này vẫn chưa có kết luận khoa học về hai gói lạ có trong chiếc đĩa do Trung Quốc sản xuất.

Tuy nhiên, người dân vẫn chưa hết lo lắng vì hiện tại hầu hết gia đình nào cũng có một vài chiếc đĩa, bát do Trung Quốc sản xuất. Mong rằng các cơ quan chức năng sớm vào cuộc để có thể đưa ra câu trả lời cuối cùng, để người dân không phải hoang mang lo lắng.

Theo An Ninh Thủ Đô

Đặc Tính Sứ Bát Tràng.


Căn cứ vào những đặc điểm chung về xương gốm sứ, màu men, đề tài trang trí và đặc biệt nhờ các dòng minh văn, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của gốm cổ Bát Tràng.
Loại hình
Hầu hết, đồ pottery Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do tính chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả mầu ngà, đục. Bát Tràng cũng là làng gốm có các dòng men riêng từ loại men xanh rêu cùng với nâu và trắng cho đến men rạn với cốt gốm xốp có mầu xám nâu. Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia loại hình của đồ gốm Bát Tràng như sau:
* Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát, chén, khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ.
* Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng: Bao gồm các loại chân đèn, chân nến, lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm. Trong đó, chân đèn, lư hương và đỉnh là những sản phẩm có giá trị đối với các nhà sưu tầm đương đại vì lẽ trên nhiều chiếc có minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm tháng chế tạo, nhiều chiếc còn ghi khắc cả họ và tên của những người đặt hàng. Đó là một nét đặc biệt trong đồ gốm Bát tràng.
* Đồ trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng.
Trang trí
Thế kỉ 14–15: Hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Lý–Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam. Khoảng thời gian này đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam đồng thời xuất hiện những đồ gốm hoa nâu vẽ theo gốm hoa lam. Đề tài trang trí còn giới hạn trong các đồ án hoa lá, tiếp nối gốm hoa nâu thời Trần. 
Rồng vẽ trên gốm lam thế kỉ 16 (ảnh chụp tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam)
Rồng vẽ trên gốm lam thế kỉ 16 (ảnh chụp tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam)
Sư tử-long mã chạm nổi trên gốm thế kỉ 18 (ảnh chụp tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam)
Sư tử-long mã chạm nổi trên gốm thế kỉ 18 (ảnh chụp tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam)
Minh văn trên gốm: Bát Tràng xã
Thế kỉ 16: Cùng với việc xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn, kĩ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo. Đề tài trang trí phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thuỷ... Trang trí vẽ men lam còn giữ được nhịp độ phát triển, nhiều loại văn hình học và hoa lá còn thấy gần gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ở Chu Đậu, (Hải Dương).
Thế kỉ 17: Kĩ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh tế, cầu kì, gần gũi với chạm đá và gỗ. Đề tài trang trí tiếp nối thế kỉ 16, đồng thời xuất hiện các đề tài trang trí mới: bộ tứ linh, hổ phù, nghê, hạc... Những đề tài chạm nổi, để mộc điển hình khác như bông cúc hình ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hình lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn-Thọ (chữ Hán)... Việc sử dụng men lam kém dần, tuy đề tài trang trí vẽ tương đồng với chạm nổi. Thế kỉ 17 xuất hiện dòng gốm men rạn với sự kết hợp trang trí đề tài nổi bật như rồng, tứ linh, hoa lá, cúc-trúc-mai. Trong khoảng thời gian này còn xuất hiện loại gốm nhiều màu, nổi trội nhất là màu xanh rêu với các đề tài trang trí độc đáo: hoa sen, chim, nghê, hình người...
Thế kỉ 18: Trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo thay thế hẳn trang trí vẽ men lam trên gốm Bát Tràng. Các kỹ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi đã thích ứng với việc sử dụng men đơn sắc (men trắng xám và men rạn). Đề tài trang trí ngoài bộ tứ linh, rồng, nghê còn thể hiện các loài cây tượng trưng cho bốn mùa. Ngoài đề tài sen, trúc, chim và hoa lá còn thấy xuất hiện các loại văn bát quái, lá lật... Hoa văn đường diềm phát triển manh các nền gấm, chữ vạn, cánh sen nhọn, hồi văn, sóng nước...
Thế kỉ 19: gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển phong cách kết hợp sử dụng nhiều loại men vào trang trí. Bên cạnh các đề tài đã có, Bát Tràng còn xuất hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài theo các điển tích Trung Quốc như Ngư ông đắc lợi, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá Hải, Ngư ông kéo lưới...
Đối với các nhà khảo cổ, các nhà sưu tầm đổ cổ và các nhà nghiên cứu mỹ thuật, chủ đề rồng thể hiện qua các thời kì được nhiều người quan tâm nhất vì nó có những sự thay đổi đáng kể. Rồng là đề tài thường được trang trí trên nhiều loại hình, đặc biệt trên chân đèn và lư hương.
Thế kỉ 16: rồng được đắp nổi hoặc để mộc như trên đồ gốm thời Nguyên (Trung Quốc) hay vẽ men lam, rồng có đôi cánh mọc ra từ chân trước, cong như cánh bướm. Rồng cùng với phượng mở ra cấu trúc trang trí rồng bay phượng múa.
Đầu thế kỉ 17: rồng vẫn giữ nhiều nét tương đồng rồng thế kỉ 16, nhưng sau đó được cách điệu với 4 khúc không đều nhau, mở ra một kiểu rồng mới, khác lạ. Rồng bố cục theo chiều ngang, dáng rồng ngắn, thân uốn hình cánh cung, tay trước nắm râu. Rồng chạm nổi trong hình khánh hay thấu kính có thân nhỏ và đều có những dải mấy lửa kiểu đao mác. Nửa sau thế kỉ 17 lại xuất hiện dáng rồng gần gũi với rồng điêu khắc trên gỗ. Đuôi rồng từ bên trái trườn qua bên phải, đầu quay vào giữa. Mặt rồng tả chính diện, tay trước nắm râu. Xung quanh rồng có nhiều dải mây nổi vẽ men lam. Một kiểu rồng nữa được thể hiện trên lư hương, đế nghê, mô hình nhà là rồng nổi, đuôi vút lên trên, hai chân trước chống, đầu uốn lên, bố cục trong hình chữ nhật.
* Thế kỉ 18: rồng thân dài, đắp nổi theo dạng phù điêu, đầu nghiêng, hai mắt lồi, sừng và râu cong, bờm gáy dày, vây cá nhọn, vảy rắn, xung quanh rồng có những dải mây nổi hình 3 ngọn lửa. Sau đó, rồng ổ xuất hiện bao gồm một rồng mẹ và 6 rồng con, xen kẽ các dải mây hình khánh. Rồng được thể hiện trên bình con voi, lư hương hoặc trên bao kiếm thờ...Với rồng đắp nổi, chỉ thể hiện đầu rồng chính diện, hai chân trước dang rộng, lộ mũi hẹp, mắt lồi, miệng ngậm vòng tròn hay chữ Thọ kiểu triện còn được thể hiện trên những chiếc đỉnh.
Thế kỉ 19: rồng lại được thể hiện theo phong cách tượng tròn với thân ngắn, mình tròn, đầu rồng có miệng rộng, mũi cao, vây cá, vảy tròn và được trang trí theo kiểu đắp nổi hoặc vẽ men lam trên đỉnh gốm hoặc trên bình men rạn vẽ nhiều màu. Ngoài ra, còn có đầu rồng với mặt nhìn chính diện, hai chân xoè ngang năm hai dải mây, miệng ngậm vòng...
Các dòng men
Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kì khác nhau để tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau: men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen sẫm; men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kĩ thuật men lam; men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19, men này mỏng, màu vàng ngà, bóng thích hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ; men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra một đòng Tam thái rất riêng của Bát Tràng ở thế kỉ 16–17 và men rạn là dòng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỉ 16 và phát triển liên tục qua các thế kỉ 17–19.
 Men lam
Đây là loại men sớm nhất được sử dụng tại Bát Tràng từ thế kỉ 14. Men lam là men gốm được cộng thêm với gốc màu là ôxít côban. Thợ Bát Tràng sử dụng men lam đồng thời với kĩ thuật dùng bút lông làm công cụ vẽ trên đồ gốm. Men lam không để để trần như men nâu mà bao giờ cũng được phủ lớp men mầu trắng bóng, có độ thuỷ tinh hoá cao sau khi nung. Men lam có sắc độ từ xanh chì đến xanh sẫm. Bên cạnh điểm tương đồng với các loại bình gốm hoa lam sản xuất ở lò Chu Đậu (Hải Dương), gốm hoa lam Bát Tràng ngay ở thời kì đầu đã có những nét riêng về dáng và về hoạ tiết trang trí. Những bát, âu, lọ, chân đèn gốm hoa lam của
Bát Tràng thế kỉ 14–15 có nét chung dễ nhận là lối vẽ phóng bút, dù là vẽ phong cảnh, hoa dây lá hay vẽ rồng.
Gốm hoa lam Bát Tràng thế kỉ 16, có sắc xanh đen. Men lam dùng để vẽ mây kết hợp với trang trí hình rồng nổi để mộc, vẽ cánh sen, các băng đường diềm các cặp chân đèn ngoài ra men lam dùng vẽ vào các hình trang trí nổi rồng, hoa dây và cánh sen của chân đèn và lư hương.
Thế kỉ 17: là một thời kì men lam kém phát triển tại Bát Tràng. Trên một số các chân đèn, lư hương, hũ, tượng gốm Bát Tràng (thế kỉ 17) hiện còn, lớp men vẽ trang trí màu nâu ở những chỗ men phủ màu trắng ngà rạn bị bong tróc, chỗ còn men phủ, màu nâu có sắc xanh chì, đặc biệt là chân đèn và lư hương, các hình vẽ men lam kém chau chuốt và tình trạng khá phổ biến men lam chảy nhoè, không nhận ra các họa tiết. Trong khi đó khắc chạm nổi, để mộc rất tỉ mỉ, đạt tới đỉnh cao.
Cuối thế kỉ 18: trong đỉnh cao về men rạn, Bát Tràng xuất hiện lối kết hợp trang trí nổi với vẽ lam như trên chân đèn, men lam được khôi phục trở lại trên đồ gốm Bát Tràng.
Thế kỉ 19: men lam được vẽ trang trí trên lư, choé, bình, lọ, bát hương, nậm rượn phủ men rạn trắng ngà hoặc đỉnh gốm, bình gốm men nhiều màu. Nét biểu hiện đặc trưng của men lam gốm Bát Tràng là sắc màu và lối vẽ, nhìn chung có sắc trầm. Dùng men lam vẽ phong cảnh sơn thủy, nhà cửa, lâu đài, nhân vật khá thành công trên bình. Men lam có sắc tươi dùng tô vẽ trang trí nồi trên đỉnh có thể là một trong số những tiêu bản gốm hoa lam đẹp nhất của gốm Bát Tràng ở cuối thế kỉ 19.
Trong xu hướng ảnh hưởng kiểu dáng, đề tài và cạnh tranh thị trường với gốm sứ Trung Quốc, đồ gốm Bát Tràng ở thế kỉ 19 còn có nhiều trường hợp dùng nhiều màu men. Chẳng hạn, để thể hiện đê tài Bát Tiên quá hải người thợ Bát Tràng dùng men nâu và men lam tô lên các hình trang trí nồi sau đó phủ men trắng rạn. Men lam cùng với men trắng vẽ các đề tài mã liễu, tiêu tượng, tùng lộc trên lư gốm men nâu, men lam vẽ cành liễu, khóm lan, bụi cỏ trong bức tranh nổi Tô Vũ chăn dê, men lam cùng với men nâu sắc sẫm và nhạt tạo nên chiếc đỉnh gốm men nhiều màu đồ sộ. Đó cũng là bằng chứng sinh động về bàn tay tài khéo của nhiều đời thợ gốm Bát Tràng được kế thừa và không ngừng tiến triển.
Men nâu
Một trong số các loại men sử dụng đầu tiên ở Bát Tràng là men nâu, sắc độ màu của men phụ thuộc nhiều vào xương gốm (xương gốm Bát tràng dày và thường có mầu nâu xám). Trên các đồ gốm có niên đại thế kỉ 14 đầu thế kỉ 15, men nâu được dùng tô lên các đồ án trang trí kết hợp với men nền mầu trắng ngà bao gồm chân đèn, thạp, chậu, âu, đĩa...Men nâu có sắc độ đỏ nâu hay gọi là màu bã trầu (chocolate), men này không bóng, trên bề mặt men thường có vết sần. Men nâu còn được dùng phủ toàn bộ rồi cạo bỏ phần men tạo thành đồ án hoa văn mộc. Thế kỉ 14, thợ gốm Bát Tràng đã biết hạn chế sự ảnh hưởng màu men nâu do mộc bằng cách vẽ men nâu trên lớp men trắng ngà để chuyển men nâu đỏ sang vàng nâu.
Trong các loại hình của nhóm đồ gốm men nhiều mâu thế kỉ 16–17, men nâu được dùng xen lẫn với men xanh rêu, men ngà, tạo ra các sắc độ khác nhau. Men nâu giữ vị trí các đường chỉ chia băng, tô lên hoa sen hoặc các hình rồng, đối với lư hương chữ nhật men nâu tô lên phần chân đế...
Các đồ gốm thế kỉ 18 tiếp tục sử dụng men nâu nhiều theo cách thức cổ truyền, một số nghệ nhân tìm tòi phát huy thêm để làm phong phú màu men này, đặc biệt trên cặp tượng hổ chế tạo khoảng năm 1740, men nâu dưới lớp men rạn tạo nên bộ da hổ có màu sắc đa dạng hơn.
Thế kỉ 19, men nâu dùng làm nền cho các trang trí men trắng và xanh. Những bình, lọ men rạn ngà, thể hiện đề tài trang trí: Ngư ông đắc lợi, tùng hạc, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá hải... men nâu dùng để tô trên những thân cây tùng, cây liễu hoặc điểm thêm vào các dải mây, tà áo của Bát tiên. Thế kỉ 19 là thời điểm đánh dấu men nâu đã chuyển sắc thành một loại men bóng (thường gọi là men da lươn), sử dụng rộng rãi ở Bát Tràng cho tới tận ngày nay.
Men trắng (ngà)
Đây là loại men trắng, nhiều trường hợp ngả màu vàng ngà, bóng khi nhiệt độ nung đạt độ cao nhưng cũng nhiều trường hợp có màu trắng xám, trắng sữa, đục. Cùng với kiểu dáng và trang trí, men trắng ngà cũng tạo nên một nét riêng biệt của đồ gốm Bát Tràng. Men trắng ngà đã thấy sử dụng phủ lên trang trí men lam hay men nâu, nhưng trong rất nhiều đồ gốm Bát Tràng chỉ thấy dùng men trắng ngà.
Gốm Bát Tràng thế kỉ 17 đạt đỉnh cao trong kĩ thuật trang trí nổi với hầu hết các thủ pháp kĩ thuật chạm trổ, dán ghép. Men trắng ngà được sử dụng trên các lư hương để phủ trên các rìa, ước và đường viền ngoài phần trang trí nổi, rất ít khi phủ lên hình trang trí. Vì men trắng mỏng, xương gốm được lọc luyện kĩ và độ nung cao nên có chất lượng tốt, một số sản phẩm men trắng ngà phủ lên trang trí nổi dầy vẫn có vết rạn men.
Thế kỉ 18, men trắng ngà còn thấy sử dụng trên một số loại hình khác nhau cùng trang trí nổi để mộc. Những lư hương tròn được đắp nổi hình rồng và mặt nguyệt, phần còn lại phủ men trắng ngà.
Vào thế kỉ 19, gốm Bát Tràng chưa mất hẳn kiểu trang trí nổi để mộc, men ngà còn thấy sử dụng trên các loại bình, lọ, lư hương, tượng tròn. Bình gốm có nắp có các hình rồng mây và lục bảo trang trí nổi để mộc, phần còn lại phủ men trắng ngà. Trên các loại bình, lư hương quai tùng, lư hương chữ Thọ; cặp tượng đầu khỉ thân rắn, tượng rồng trang trí kiến trúc, tượng ba đầu, tượng Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen đều thấy sử dụng men ngà, xám.
Men xanh rêu
Thế kỉ 14–19 men xanh rêu được dùng khá nổi trội cùng với men trắng ngà và nâu. Men xanh rêu, men ngà và nâu tạo ra loại Tam thái riêng của gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17. Trên chân đèn men xanh rêu tô lên những bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen các bông hoa tròn hình bánh xe, các hình rồng, các bông hoa nổi đường diềm quanh vai.
Men xanh rêu còn dùng vẽ mây, tô lên nhiều góc mảng diềm, đế và các cột dọc của long đình; men rêu sắc sẫm ở các cột vuông mô hình nhà 2 tầng hay một số mảng đường diềm lư hương chữ nhật. Men xanh rêu, sắc nhạt, trên chân đèn, đế nghê. Trên lư hương tròn men xanh rêu thấy điểm vào 4 hình chữ S nổi giữa thân và chân cùng một đôi chỗ trên bụng. Men xanh rêu sắc sẫm còn thấy tô trên một số mảng trang trí nổi, hình nghê của lư tròn và trên diềm trang trí nổi chân trước tượng nghê.
Men xanh rêu, dù ở các sắc độ khác nhau nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất lớn vì chỉ thấy trên đồ gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17 và có thể xem đây là một dữ kiện đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ gốm Bát Tràng trên nhiều loại hình khác nhau.
Men rạn
Đây là một loại men độc đáo tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương gốm và men. Cho đến nay các tài liệu gốm men cổ ở Việt Nam xác nhận mang men rạn chỉ được sản xuất tại lò gốm Bát Tràng từ khoảng cuối thế kỉ 16 và kéo dài tới đầu thế kỉ 20.
Lư hương khắc minh văn, do gia đình Đỗ Phủ sản xuất vào cuối thế kỉ 16 thể hiện lớp men rạn trên 2 phần dưới của lư hương tròn có thể xem là tiêu bản gốm men rạn sớm nhất. Men rạn có sắc ngà xám các vết rạn chạy dọc và ngang chia ra nhiều hình tam giác, tứ giác.
Cặp chân đèn do "Đỗ phủ xã Bát Tràng" tạo tạo khoảng năm 1600–1618, trong đó men rạn phủ toàn bộ từ miệng tới chân, có màu vàng ngà, rạn trong men, đường chỉ rạn màu đen. Những cặp hiện vật men rạn này rêu có trang trí nổi, ngoài men rạn ra không còn loại men nào khác, đó là những tiêu bản men rạn chuẩn mực của Bát Tràng vào thế kỉ 17.
Thế kỉ 18 Bát Tràng còn sản xuất nhiều đồ gốm men rạn có ghi niên đại. Đỉnh gốm men rạn chế tạo năm 1736, men rạn có màu trắng xám. Một đỉnh gốm men rạn khác, có nắp, thân và đế, chế tạo vào khoảng năm 1740–1768 lại dùng men rạn có màu vàng ngà... Men rạn còn được sù dụng trên các loại hình: chân nến trúc hoá long; ấm có nắp, đài thờ các nắp, cặp tượng nghê.
Thế kỉ 19, các đồ gốm dòng men rạn còn tiếp tục phát triển, bên cạnh việc sử dụng kết hợp men rạn với trang trí vẽ lam. Trên các đồ gốm, thợ Bát Tràng còn đắp nổi, khắc chìm hoặc không trang trí, men rạn có mầu trắng xám.

Bình gốm Bát Tràng, men rạn, thế kỉ 19, vẽ nhiều màuMinh văn trên gốm: Thuận an phủ, Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã, sinh đồ Vũ Xuân tạo tác
Minh văn trên gốm: Thuận an phủ, Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã, sinh đồ Vũ Xuân tạo tác
Minh văn
Gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có minh văn, thể hiện bằng khắc chìm hay viết bằng men lam dưới men trắng. Một số minh văn cho biết rõ năm sản xuất, họ tên quê quán tác giả chế tạo cùng họ tên, có khi là cả chức tước của người đặt hàng.
Thế kỉ 15, một minh văn khắc trên phần dưới chân đèn có ghi: Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã tín thí Hoàng Li tỉnh thê Nguyễn Thị Bảo. Trên đai tô nâu giũa phần dưới chân đèn có viết bằng men 6 chữ Hán: Thời Trung xã, Hoàng Phúc tạo. Hoặc cặp phần dưới chân đèn minh văn cho biết: Tác giả: Vũ Ngộ Trên, Bùi Thị Đỗ, Hoàng Thị Vệ, Bùi Huệ, và Trần Thị Ngọ; Thời gian chế tạo: niên hiệu Diên Thành. Có minh văn ghi rõ người đặt hàng như cặp chân đèn hai phần: Người đặt hàng: Lê Thị Lộc, ở Vân Hoạch, Xuân Canh huyện Đông Ngạn. Thời gian chế tạo: Năm Diên Thành thứ 2. Một cặp chân đèn khác có khắc minh văn dài, một bên khắc 3 dòng và một bên 14 dòng, cho biết: Tác giả: Bùi Huệ và Bùi Thị Đỗ; thời gian chế tạo: ngày 25 tháng 11 năm Diên Thành thứ 3; những người đặt hàng: gia đình họ Lưu cùng họ Nguyễn, Lê, Đinh... Trong đớ, họ Lưu, tước Ninh Dương Bá, làm việc ở Thanh Tây vệ, Ti Đô chỉ huy sứ, Đô chỉ huy kiểm sự. Quê quán nhà họ Lưu: xã Lai Xá, huyện Đan Phượng, Phủ Quốc Oai...
Và còn rất nhiều sản phẩm có ghi minh văn, những sản phẩm này một số đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số tại các bảo tàng nước ngoài, một số hiện được sở hữu bởi các nhà sưu tầm đồ cổ, một số lưu lạc trong dân gian và một số còn chìm sâu trong lòng đất.

Hình rồng Thăng Long trên con đường gốm sứ ven sông Hồng
 Hình rồng Thăng Long trên con đường pottery ven sông Hồng.
Tags: Pottery & Ceramic

Từ khóa mới

Được tạo bởi Blogger.
Like us on Facebook
Follow us on Twitter
Recommend us on Google Plus
Subscribe me on RSS

thép hình - thép ray - Thép ống - Thép tấm

Công ty FaceSEO tại HCM chuyên đào tạo & dịch vụ SEO.