Dịch vụ seo - Quảng cáo trực tuyến hiệu quả - Đào tạo seo - Khóa học Seo miễn phí giá seo website tốt nhất HCM. quảng cáo Google Adwords giá rẻ ổn định, Hướng dẫn Seo,

công ty seo

Quy trình làm gốm sứ hiện đại

Quy trình hoàn thiện sản phẩm gốm sứ, một trong những quy trình phức tạp và nếu hỏng một giai đoạn sẽ làm hỏng toàn bộ sản phẩm.
Quy trình
Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".

Quá trình tạo cốt gốm

Chọn đất
Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm. Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng Bồ Bát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây.

Xử lý, pha chế đất

Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau.

Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là "bể đánh" dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng). Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra). Khi đất đã "chín" (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng. Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là "bể lắng" hay "bể lọc". Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng.

Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là "bể phơi", người Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là "bể ủ". Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe2O3) và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất). Thời gian ủ càng lâu càng tốt.

Tạo dáng

Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném ("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào "bửng". Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương Tây. Tuy thế, kỹ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa. "Be chạch" cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm.

Phơi sấy và sửa hàng mộc

Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần.

Sản phẩm mộc đã định hình cần đem "ủ vóc" và sửa lại cho hoàn chỉnh. Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bàn xoay vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân "vóc" cho đất ở chân "vóc" chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là "lùa"). Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách...), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm. Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bộ", phải dùng bàn xoay thì gọi là "làm hàng bàn".


Liên hệ mua gốm sứ:
Công Ty TNHH MTV Gốm Sứ Toàn Thắng 
Địa Chỉ : 55/1 Kp Bình Phú, P. Bình Chuẩn, TX Thuận An, Bình Dương
Điện thoại: 0650.378.9338 - Fax: 0650.378.9338
Tags: Pottery & Ceramic

Sống lại một dòng gốm “đã tắt”

Vùng đất cổ Luy Lâu nay thuộc xã Thiên Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã từng sản sinh ra một dòng gốm cổ mang tâm hồn của người Việt cổ. Nhưng do sự biến thiên của lịch sử và sự mai một của làng nghề mà ceramicLuy Lâu đã biến mất trong bản đồ gốm Việt Nam. Tuy nhiên, có một người đã làm sống dậy một dòng gốm chỉ còn thấy trong sử sách.

“Tôi không phải là nghệ nhân”…

Vào lò gốm của Nguyễn Đăng Vông, ngay từ cổng, nguời ta đã thấy được sự cực nhọc của nghề gốm, bùn đất bám cả lên tường, ngổn ngang là những sản phẩm dang dở. Trong không gian đầy bụi bặm ấy, ông Nguyễn Đăng Vông xuất hiện trước mắt chúng tôi có dáng dấp của một nghệ sĩ, tóc để dài, buộc gọn gàng đằng sau chạy qua chạy lại bên chiếc ngọc bình kích thước lớn để hướng dẫn cho con gái cách phun men trước khi đưa vào lò nung.

d69c01c7b_vong.jpg
Ông Nguyễn Đăng Vông say sưa với gốm

Tiếp chúng tôi trên một căn chòi được dựng ngay tại xưởng gốm, nhấp một ngụm nước chè xanh man mát từ chiếc chén được nhà làm ra, ông từ tốn nói: “Tôi không phải là nghệ nhân làng nghề mà chỉ là nghệ sĩ thôi. Gia đình không có ai theo nghề gốm, chỉ là tôi thấy thích và yêu những cổ vật của cha ông nên mày mò làm”.

Cái khó của ông khi quyết tâm đi theo nghề thử lửa, thử vàng chính là không còn ai để chỉ bảo về kỹ thuật làm gốm. Nguồn duy nhất có thể tìm ra cách làm của người xưa là căn cứ vào những hiện vật được tìm thấy khi khai quật thành Luy Lâu từ năm 1971. Như thế là quá sức đối với một người chưa hề có khái niệm nào về gốm như ông.

Ông tìm về các lò gốm cổ ở Bát Tràng, Phù Lãng và bất cứ đâu có nghề làm gốm ông đều tìm đến học nghề. Đây là khoảng thời gian dài nhưng lại có ý nghĩa vô cùng đối với việc khôi phục dòng gốm cổ Luy Lâu, nhờ nó mà ông hiểu được các công đoạn của việc làm gốm để từ đó đọc được những ẩn số của quá khứ. Khi hiểu được tất cả các loại gốm khác nhau thì mới hiểu được hết cái hay của gốm Luy Lâu, và sẽ tìm ra cách làm gốm đã mất.

Cầu kỳ đến từng chi tiết

Ông Đăng Vông xoay xoay chiếc bình trên tay chỉ cho chúng tôi: “Chiếc bình này trông thế thôi nhưng có niên đại cách đây 2.000 năm rồi đấy, những hoa văn này không phải người xưa vẽ đâu mà họ dùng tấm vải bằng dứa in trực tiếp lên sản phẩm đó.

Có chiếc bình thì hoa văn nhỏ, chiếc thì hoa văn to nhưng đều là độc bản. Những chiếc bình này khó vỡ hơn các dòng gốm khác là bởi nó rất xốp. Mà xốp là do người xưa trong khâu làm đất, đã đem phơi để những hóa chất trong đất được giải phóng, chứ nếu đất mới mà đem vào nung ngay thì ở nhiệt độ cao rất dễ nứt vỡ”.

66b59da44_gom_luy_lau.jpg
Gốm cổ Luy Lâu

Ông kể rằng: Gốm Luy Lâu ra đời cách đây 2.000 năm và dòng gốm này được sinh ra chỉ để phục vụ cho tầng lớp quý tộc. Vì thế mà gốm Luy Lâu rất cầu kỳ trong từng chi tiết, từng đường nét. Người thợ gốm không dùng bàn xoay mà hoàn toàn dùng tay để tạo nên phần xương gốm nên không có dị bản.

Mà vùng đất Bắc Ninh được phú cho một chất đất đặc biệt rất thích hợp để làm đồ gốm. Điều đặc biệt, gốm Luy Lâu không bao giờ có rêu mốc. Những chứng tích còn sót lại của thành Luy Lâu đã cho thấy điều này rất rõ nét.

Ông lấy ở trong tủ ra một chiếc bình gốm bị vỡ đã được gắn ghép một cách khéo léo và say sưa bình luận về độ khéo léo của đôi bàn tay người thợ năm xưa. Chiếc bình hơi méo một chút. Ông bảo như thế mới đẹp, vì đối với người thợ, làm cho tròn xoe như cái mẹt lại không phải là việc khó. Cái khó là tạo được sự phóng túng, thể hiện được tâm hồn khoáng đạt của người thợ qua từng sản phẩm.

Ngọc bình có 1.000 nhân vật văn hóa, 1.000 chữ ký

Rất hiểu về đặc điểm và đặc trưng riêng của gốm, nên khi phục hồi dòng gốm cổ này, ông Nguyễn Đăng Vông cũng muốn phát triển theo hướng giữ nguyên nét cổ vốn có. Ông cho rằng  trong thời buổi cơ chế thị trường cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, việc giữ nguyên được bản sắc gốm cũng cần có bản lĩnh, nhất là gốm Luy Lâu có nhiều đơn đặt hàng nhưng ông vẫn chỉ làm gốm để phục vụ cho nhu cầu chơi gốm là phần nhiều.


Khi Lý Công Uẩn rời đô về Thăng Long, những người thợ gốm thành Luy Lâu cũng được tập họp về đất kinh kỳ, vì thế, văn hóa của Thăng Long có ghi dấu ấn của văn hóa Luy Lâu. Trong ngày đại lễ Hà Nội kỷ niệm 1.000 năm tuổi, cũng giống như bao nghệ nhân của làng nghề trên đất nước, ông Nguyễn Đăng Vông sẽ làm một ngọc bình có kích thước rất lớn, giữ nguyên màu men có màu xanh lá ôliu và được đắp phù điêu nổi của 1.000 nhân vật văn hóa trong lịch sử, và có 1.000 chữ ký. Ông muốn trong hàng nghìn món quà được dâng tặng lên Hà Nội, sự xuất hiện của gốm Luy Lâu sẽ nhắc công chúng nhớ tới một dòng gốm cổ chứa đựng trong đó nét văn hóa bản địa của người Việt cổ. 

Quá trinh nung gốm ở Bát Tràng

Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ ceramic. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn.

I) Lò nung:

1) Lò ếch: là kiểu lò gốm cổ nhất được sử dụng một cách phổ biến ở khắp mọi nơi, hiện nay mất hết dấu tích nhưng qua các nguồn tư liệu gián tiếp vẫn có thể hình dung được lò có hình dáng giống như một con ếch dài khoảng 7 mét, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 3-4 mét, cửa lò rộng khoảng 1,2 mét, cao 1 mét. Đáy lò phẳng nằm ngang, vòm lò cao khoảng từ 2 mét đến 2,7 mét. Bên hông lò có một cửa ngách rộng 1 mét, cao 1,2 mét phục vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm. Lò có 3 ống khói thẳng đứng cao 3-3,5 mét. Trong mỗi bầu lò người ta chia thành 5 khu vực xếp sản phẩm là: hàng dàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt. Trong quá trình lâu dài sử dụng lò ếch, để khắc phục nhược điểm của lớp đất gia cố bên trong và sàn lò, người ta thay vào đó lớp gạch mộc và vữa ghép lại.

2)Lò đàn: Lò đàn xuất hiện vào giữa thế kỉ 19. Lò đàn có bầu lò dài 9 mét, rộng 2,5 mét, cao 2,6 mét được chia thành 10 bích bằng nhau. Vị trí phân cách giữa các bích là hai nống (cột). Cửa lò rộng 0,9 mét, cao l mét. Bích thứ 10 gọi là bích đậu thông với buồng thu khói qua 3 cửa hẹp. Để giữ nhiệt, bích lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói. Lớp vách trong ghép gạch Bát Tràng, lớp vách ngoài xây bằng gạch dân dụng. Mặt dưới của cật lò gần như bằng phẳng còn mặt trên hình vòng khum. Hai bên cật lò từ bích thứ 2 đến bích thứ 9 người ta dấu mở hai cửa nhỏ hình tròn, đường kính 0,2 mét gọi là các lỗ giòi để ném nhiên liệu vào trong bích. Riêng bích đậu người ta mở lỗ đậu (lỗ giòi rộng hơn nửa mét). Nhiệt độ lò đàn có thể đạt được 1250–1300°C.

3)Lò bầu, hay lò rồng: Xuất hiện vào đầu thế kỉ 20. Lò bầu chia ra làm nhiều ngăn, thường có từ 5 đến 7 bầu (cũng có khi đến 10 bầu). Bầu lò có vòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như những mảnh vỏ sò úp nối với nhau. Người ta dùng gạch chịu lửa đề xây dựng vòm cuốn của lò. Lò dài khoảng 13 mét cộng với đoạn để xây ống khói ở phía đuôi dài 2 mét thì toàn bộ độ dài của lò tới 15 mét. Độ nghiêng của trục lò khoảng 12-15⁰. Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt tới 1300°C.

4)Lò hộp hay lò đứng: Khoảng năm 1975 trở lại đây người Bát Tràng chuyển sang xây dựng lò hộp để nung gốm. Lò thường cao 5 mét rộng 0,9 mét, bên trong xây bằng gạch chịu lửa giống như xây tường nhà. Lò mở hai cửa, kết cấu đơn giản, chiếm ít diện tích, chi phí xây lò không nhiều, tiện lợi cho quy mô gia đình. Vì thế hầu như gia đình nào cũng có lò gốm, thậm chí mỗi nhà có đến 2, 3 lò. Nhiệt độ lò có thể đạt 1250°C.


Lò hộp (lò đứng)nung gốm

5)Lò gas lò tuynen (lò hầm, lò liên tục): Trong những năm gần đây, Bát Tràng xuất hiện thêm những kiểu lò hiện đại là lò con thoi, hoặc lò tuynen, đăc biệt được sử dụng nhiều là lò ga với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu. Trong quá trình đốt, nhiệt độ được theo dõi qua hỏa kế, việc điều chỉnh nhiệt độ mà thực chất là quá trình tăng giảm nhiên liệu được thực hiện bán tự động hoặc tự động, công việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là những lò truyền thống của Bát Tràng.


Lò ga nung gốm

II)Bao nung:

Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng một loại gạch vuông ghép lại làm bao nung. Loại gạch này sau hai ba lần sử dụng trong lò đạt đến độ lửa cao và cứng gần như sành (đó chính là gạch Bát Tràng nổi tiếng).

Gần đây bao nung thường được làm bằng đất sét chịu lửa có mầu xám sẫm trộn đều với bột gạch hoặc bao nung hỏng nghiền nhỏ (gọi là sa mốt) với tỉ lệ 25–35% đất sét và 65–75% sa mốt. Người ta dùng một lượng nước vừa đủ để trộn đều và đánh nhuyễn chất hỗn hợp này rồi đem in (dập) thành bao nung hay đóng thành gạch ghép ruột lò. Bao nung thường hình trụ để cho lửa có điều kiện tiếp xúc đều với sản phẩm. Tuỳ theo sản phẩm mà bao nung có kích thước không giống nhau nhưng phổ biến hơn cả là loại có đường kính từ 15 đến 30 cm, dày 2–5 cm và cao từ 5 đến 40 cm. Một bao nung có thể dùng từ 15 đến 20 lần. Nếu sản phẩm được đốt trong lò con thoi hoặc lò tuynen, thường không cần dùng bao nung

III)Nhiên liệu bao gồm;

Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò, sau đó Bát Tràng dùng kết hợp rơm rạ với các loại "củi phác" và "củi bửa" và sau nữa thì củi phác và củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng. Củi bửa và củi phác sau khi đã bổ được xếp thành đống ngoài trời, phơi sương nắng cho ải ra rồi mới đem sử dụng. Đối với loại lò đàn, tại bầu, người ta đốt củi phác còn củi bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò.

Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn củi chỉ để gầy lò. Than cám đem nhào trộn kĩ với đất bùn theo tỷ lệ nhất định có thể đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô. Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể dùng được ngay.

VI)Chồng lò:

Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào lò nung. Việc xếp sản phẩm trong lò nung như thế nào là tuỳ theo sản phẩm và hình dáng kích, cỡ của bao nung trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để không gian trong lò vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt cao. Bởi cấu tạo của mỗi loại lò khác nhau nên việc chồng lò theo từng loại lò cũng có những đặc điểm riêng. Đối với loại lò ếch, người ta xếp sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò, còn đối với loại lò đàn thì người ta xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ 10 (riêng bích thứ 10 vì lửa kém nên sản phẩm thường để trần không cần có bao nung ở ngoài). Ở bầu cũi lợn (bầu đầu tiên) nơi giành để đốt nhiên liệu, có nhiệt độ cao nên đôi khi người ta xếp các loại sản phẩm trong các bao ngoại cỡ. Sản phẩm được xếp trong lò bầu giống như lò đàn. Riêng đối với lò hộp, tất cả các sản phẩm đều được đặt trong các bao nung hình trụ không đậy nắp và xếp chồng cao dần từ đáy lên nóc, xung quanh tường lò và chỗ khoảng trống giữa các bao nung đều được chèn các viên than.

Làng Bát Tràng xưa có các phường Chồng Lò, mỗi phường thường gồm 7 người (3 thợ cả, 3 thợ đệm và 1 thợ học việc). Họ chia thành 3 nhóm trong đó mỗi nhóm có 1 thợ cả và 1 thợ đệm, còn thợ học việc có nhiệm vụ bưng bao nung và sản phẩm mộc phục vụ cho cả 3 nhóm trên. Nhóm thứ nhất có nhiệm vụ chồng đáy (xếp bao nung và sản phẩm ba lớp từ đáy lên), nhóm thứ hai có nhiệm vụ chồng giữa (xếp ba lớp giữa), còn nhóm thứ ba là nhóm gọi mặt (xếp ba lớp cuối cùng ở vị trí cao nhất trong lò). Phường Chồng Lò ở Bát Tràng chủ yếu tập hợp những người thợ gốm ở Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Tây) và Vân Đình (Mỹ Đức, Hà Tây) chuyên phục vụ chơ các lò gốm Bát Tràng.

V)Đốt lò:

Nhìn chung đối với các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu thì quy trình đốt lò đều tương tự nhau và với kinh nghiệm của mình, người "thợ cả" có thể làm chủ được ngọn lửa trong toàn bộ quá trình đốt lò. Ở lò đàn khoảng một nửa ngày kể từ khi nhóm lửa người ta đốt nhỏ lửa tại bầu cũi lợn để sấy lò và sản phẩm trong lò. Sau đó người ta tăng dần lửa ở bầu cũi lợn cho đến khi lửa đỏ lan tới bích thứ tư thì việc tiếp củi ở các bầu cũi lợn được dừng lại. Tiếp tục ném củi bửa qua các lỗ giòi. Người xuất cả bằng kinh nghiệm của mình kiểm tra kỹ các bích và ra lệnh ngừng ném củi bửa vào bích nào khi biết sản phẩm ở bích đó đã chín. Càng về cuối sản phẩm chín càng nhanh. Khi sản phẩm trong bích đậu đã sắp chín thì người thợ cả quyết định ném dồn dập trong vòng nửa tiếng khoảng 9-10 bó củi bửa qua lỗ đậu rồi kết thúc việc tiếp củi. Trong phường đốt lò, người phường trưởng (xuất cả) phụ trách chung về kỹ thuật, hai người thợ đốt ở cửa lò (đốt dưới), bốn người chuyên ném củi bửa qua cấc lỗ giòi (đốt trên).

Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò.


Đối với lò đứng, việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều vì khi hoàn tất khâu chồng lò cũng có nghĩa là đã kết thúc việc nạp nhiên liệu. Thế nhưng do đặc điểm của lò, người thợ đốt lò dù có dầy dạn kinh nghiệm cũng rất khó có thể làm chủ được ngọn lửa, đây thực sự là vấn ra khó khăn nhất trong khâu kĩ thuật ở làng Bát Tràng. Người ta dùng gạch chịu lửa bịt cửa lò lại rồi nhóm lò bằng củi. Lửa cháy bén vào than và bốc từ dưới lên. Than trong lò cháy hết cũng là lúc kết thúc công việc đốt lò. Thời gian đốt lò kể từ lúc nhóm lửa đến khi hoàn toàn tắt lửa kéo dài khoảng 3 ngày 3 đêm. Sau khi lò nguội, sản phẩm ra lò được đánh giá phân loại và sửa chữa lại các khuyết tật (nếu có thể được) trước khi đem ra phân phối sử dụng.

Liên hệ mua gốm sứ:
Công Ty TNHH MTV Gốm Sứ Toàn Thắng 
Địa Chỉ : 55/1 Kp Bình Phú, P. Bình Chuẩn, TX Thuận An, Bình Dương
Điện thoại: 0650.378.9338 - Fax: 0650.378.9338
Tags: Pottery & Ceramic

Một dòng gốm sứ bị lãng quên...

Trong kho tàng làng sứ Việt Nam, sành sứ Móng Cái hiện nay chỉ được nhắc tới với những dòng ngắn ngủi như những tiếng ta thán cho một ngành nghề tinh hoa đã đi vào quên lãng. Đối với dân sưu tầm thì đồ sành sứ Móng Cái được đánh giá như một loại đồ không hấp dẫn, rẻ tiền và nếu có dự định đầu tư thì xem ra không đúng chỗ...

Là một dòng sản phẩm truyền thống, sành sứ Móng Cái mang nhiều dáng dấp gốm sứ Nam Trung Hoa với nhiều chủng loại như: ấm chén, bát đĩa, ấm tích, liễn, âu, lọ, gối, đèn, bình vôi, điếu. Ngoài ra, còn có một số lượng đáng kể sản phẩm có kích thước lớn như: choé, bình, chum, đôn, thống. Một số nhà nghiên cứu gốm sứ ở Cảnh Đức Trấn đã ngạc nhiên khi nhìn thấy những sản phẩm kích thước lớn này và nhận xét rằng, nếu ở Trung Quốc thì đây là sản phẩm của “lò Tướng Quân”.

Các sản phẩm của sứ Móng Cái có màu sắc không trắng trong hay trắng đục, cũng không phải màu xanh ngọc thạch, mà là màu trắng phớt xanh. Màu hoa trang trí chủ yếu là màu lam với các sắc độ đậm, nhạt, tươi, sẫm khác nhau được tạo ra bằng màu xanh cô ban.
Choé - Một trong những sản phẩm sứ Móng Cái.
Choé - Một trong những sản phẩm sứ Móng Cái.
Về hoa văn trang trí và nội dung cũng rất phong phú. Ngoài các bức tranh vẽ phong cảnh, sơn thuỷ lâu đài, các loại hoa kiểu như hoa sen, cúc, mẫu đơn, phù dung, mai, tùng, trúc, chim trĩ, chim sẽ, chim công, chim ưng, hạc, còn có tứ linh rồng, phượng, lân, rồng. Đáng chú ý là nội dung các bức tranh thường có ý thức đạo giáo, nho giáo và các văn nhân nho sĩ nổi tiếng trong lịch sử và khá nhiều bản vẽ là minh hoạ các sự kiện, các điển cố. Một số sản phẩm dưới đáy hoặc vai ghi một số ký hiệu như con số VI, chữ +, các chữ Pk, Ta v.v.

Theo Hiệp hội gốm Việt Nam, hoạ pháp của gốm sứ Móng Cái được phân theo các thời kỳ rõ rệt. Thời kỳ trước năm 1950, gốm sứ Móng Cái có những đường nét hoa văn lão luyện, bút pháp cứng cáp, sắc thanh hoa không quá chói; nước men trắng có sắc xanh nhạt - đặc trưng của những sản phẩm được nung bằng lò củi. Từ năm năm 1950 đến năm 1969, nét vẽ bị thô phác, bắt đầu có dấu hiệu của sự thoái hoá. Sắc cô ban đã có ánh chói của cô ban nhân tạo, cốt thai kém độ mịn, xám đục tuy nước men vẫn có phần đảm bảo chất lượng ban đầu. Trên phương pháp tạo hình, sành trắng Móng Cái có đủ mọi loại hình thương phẩm: từ bát, đĩa, chén, lò hương, ấm trà, lọ hoa, cho đến choé, bình, chum vại, thống, chậu cây, đôn. Giai đoạn này cũng đã thấy xuất hiện những sản phẩm phục vụ cho công nghiệp Việt Nam như các cọc điện sành trắng... Ở giai đoạn cuối cùng (từ 1969 đến 1978), hoạ pháp là sự chống đỡ yếu ớt biểu hiện qua những cốt thai, chất men hay những hình vẽ, biểu hiện của một thời chiến khó khăn và nó đã tuyệt đối chấm dứt hoạt động cuối năm 1978, khi mà chiến sự vùng biên giới Việt Trung bắt đầu. Lúc đó, toàn bộ khu lò Móng Cái đã được chuyển về Quảng Yên và sự hoạt động yếu kém của nó đã thực sự chấm dứt vào năm 1985.

Theo những di vật còn sót lại, khu lò gốm sứ Móng Cái được hình thành cách đây khoảng 130 năm và toạ lạc tại phố Lò Bát, phường Trần Phú (Móng Cái) ngày nay. Khu lò do các chủ lò và thợ gốm người Hoa sang Móng Cái dựng lò lập nghiệp và phát triển mạnh vào nửa đầu thế kỷ XX.

Lò nung gốm sứ Móng Cái thời kỳ này thuộc loại lò bầu (tức lò rồng), có các buồng lò riêng biệt nối tiếp nhau dài khoảng 20 - 80m và có khoảng 18 - 20 buồng lò. Với công nghệ lò rồng nung, 
Ceramic Móng Cái đã được giới chuyên gia khẳng định là địa chỉ đầu tiên ở Việt Nam áp dụng loại công nghệ này, sau đó mới phát triển vào Bát Tràng và Cây Mai vào đầu thế kỷ XX.
Bá Khang

EU áp thuế chống phá giá hàng gốm sứ Trung Quốc


Ngày 4/4, các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã nhất trí áp thuế chống bán phá giá đối với hàng Ceramic gia dụng có xuất xứ từ Trung Quốc trong bối cảnh hàng giá rẻ châu Á đang lấn át các sản phẩm địa phương tại thị trường nội khối.

EU thông qua quyết định trên sau khi Ủy ban châu Âu (EC) đề xuất mức thuế chống phá giá mới từ 13,1% đến 36,1%, thấp hơn so với mức 58% mà cơ quan này đưa ra hồi tháng 11 năm ngoái song bị hầu hết các nước thành viên EU bác bỏ.

Theo thông lệ, quyết định mới sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm, bắt đầu từ ngày 15/5 tới sau khi hoàn tất một số bước đi mang tính thủ tục.

Ông Rogier Chorus, thuộc Hiệp hội gốm sứ châu Âu, cho rằng quyết định trên là một tin quan trọng đối với ngành công nghiệp gốm sứ ở Liên minh châu Âu, giúp vực dậy ngành công nghiệp đang suy yếu này của khu vực.

Các công ty sản xuất hàng gốm sứ châu Âu cũng hoan nghênh quyết định này dù mức thuế mới không thể bù đắp được những thiệt hại mà họ phải gánh chịu.

Trong khi đó, Hiệp hội Ngoại thương có trụ sở tại thành phố Brussels của Bỉ lo ngại quyết định áp thuế chống phá giá trên khiến người tiêu dùng EU phải chịu giá cả cao hơn.

EU là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu đồ gốm gia dụng từ Trung Quốc lên tới 728 triệu euro trong năm 2011. Tuy nhiên, EC mới đây cáo buộc một số công ty Trung Quốc bán phá giá hoặc bán với giá thấp một cách phi lý đối với một số sản phẩm; đồng thời đang điều tra 30 trường hợp bán phá giá và trợ giá, bao gồm 19 trường hợp liên quan đến Trung Quốc.

Tháng 9 năm ngoái, EC đã tiến hành cuộc điều tra bán phá giá lớn nhất từ trước đến nay lên tới 21 tỷ euro, liên quan các tấm pin Mặt Trời và linh kiện của các nhà sản xuất Trung Quốc, đồng thời cũng điều tra các cáo buộc về trợ giá./.

(TTXVN)

Làm sạch đồ gốm sứ.

Đồ gốm sứ để trưng hoặc sử dụng lâu ngày thường bám các vết bẩn nhìn không đẹp. Dưới đây là một cách dễ dàng làm sạch lại đồ Pottery, sứ cũ.
Đối với các vết bẩn ở đồ sứ thông thường là do bị xước, lâu ngày bám bụi thành vết bẩn trông không đẹp.
do-gom-su1
Bạn lấy muối và giấm hòa theo tỉ lệ 1:1 rồi đem đun nóng cho tan hết muối. Dùng khăn ẩm phủ lên vết bẩn một lúc rồi lấy khăn hơi ráp thấm nước giấm chùi mạnh, vết bẩn sẽ hết.
do-gom-su2
Với đồ sứ nhám, bạn hòa xà bông với nước, thả đồ sứ vào và dùng bàn chải mềm để chà vết bẩn.
SSM

Chiếc độc bình phá vỡ kỷ lục Việt Nam.

Nghệ nhân Lê Minh Ngọc ở làng gốm sứ Bát Tràng (xã Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội), người từng lập kỷ lục Việt Nam với cặp độc bình cao 3m, vừa cho ra lò một chiếc độc bình cao 3,4 mét, phá vỡ kỷ lục cũ của chính mình.
Cuối năm 2002, chàng trai trẻ sinh năm 1972 đã khiến không ít người sửng sốt và nể phục khi làm thành công cặp độc bình cao tới 3m, đường kính 0,94m, nặng 174kg. Khi ấy, Lê Minh Ngọc là nghệ nhân trẻ nhất làng gốm Bát Tràng và là người duy nhất trong làng nắm giữ bí quyết sản xuất loại lộc bình ngoại cỡ cao từ 2m trở lên. Song cặp độc bình cao tới 3m thực sự là một bất ngờ với nhiều người vì để tăng kích cỡ một chiếc bình ngoại cỡ là việc vô cùng khó khăn, phức tạp.

Sau khi báo chí liên tục đăng tải những bài viết về anh và cặp độc bình ấy, đầu năm 2005, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã đến kiểm nghiệm và xác lập kỷ lục cặp độc bình bằng gốm cao nhất Việt Nam. Hiện hình ảnh của anh Ngọc và cặp độc bình ấy vẫn được in trong cuốn Niên giám kỷ lục Việt Nam 2008.

Đạt được kỷ lục đó nhưng Ngọc “lọ” - tên nhiều người vẫn gọi anh - không nguôi ước mơ làm được cặp lộc bình cao tới 5m. Năm 2008, sau khi bán cặp độc bình đạt kỷ lục Việt Nam kia cho Tỉnh ủy Ninh Bình với giá 800 triệu đồng, anh lại bắt đầu lao vào chinh phục đỉnh cao mới.
Công việc đầu tiên của anh là... đập cái lò nung cũ đi, xây một cái mới to hơn, cao hơn cho vừa với những chiếc bình lớn hơn. Lần này anh xây lò theo công nghệ mới, tiết kiệm đến hơn 60% nhiên liệu, song vốn đầu tư cũng vượt lên rất nhiều. Riêng việc xây lò đã ngốn hết số tiền bán cặp độc bình đạt kỷ lục của anh.
 
Pottery, ceramic

Chiếc bình mới ra lò cao 3,4m phá vỡ kỷ lục của chính Lê Minh Ngọc. Trong góc là chiếc bình cao 2m.

Suốt hai năm ròng, anh cùng nhóm thợ miệt mài với những công việc tiện cốt mẫu, đổ khuôn, rồi tạo “phơ” mộc... Một tay anh Ngọc phải làm tất cả các công việc ấy với kinh nghiệm của mình, những người thợ khác chỉ có thể trợ giúp phần nào.

“Khó khăn nhất là khi tạo “phơ”, tạo hình cho bình. Vì bình có kích cỡ lớn nên nguyên liệu trong khuôn khi tạo hình rất dễ chảy xuống, làm hỏng bình ngay” - anh Lê Minh Ngọc cho hay - “Rồi khi nung phải làm sao cho lửa đều vì lò cao, bên dưới thường bị non lửa hơn”.
Rút kinh nghiệm những lần trước, để khỏi bị hẫng, lần này nghệ nhân trẻ Lê Minh Ngọc chỉ dám nâng chiều cao chiếc bình lên một chút. Những ngày cuối cùng của năm Kỷ Sửu, 4 chiếc “phơ” cao hơn 3m được đưa vào cái lò nung cao tới 6m. Sau 4 ngày đêm chờ đợi, cửa lò mở ra trong sự háo hức của anh, song chỉ một chiếc còn nguyên vẹn, 3 chiếc còn lại cái thì cái méo, cái nứt vỡ.
 
Lê Minh Ngọc và Độc bình cao nhất Việt Nam
Anh Lê Minh Ngọc bên cặp độc bình cao 3m (ảnh trái, chụp năm 2002) và chiếc bình cao 3,4m mới thành công của anh.

Không hề buồn rầu, trái lại anh Ngọc rất vui sướng vì đây là lần đầu tiên Ngọc thành công ngay lần nung đầu khi làm một chiếc bình ngoại cỡ lớn như vây. Anh hò mọi người ngả chiếc bình ra đo chiều cao. Con số 3,4m khiến anh nhảy cẫng lên sung sướng vì đã phá vỡ kỷ lục của chính mình.

Đến thăm nhà anh Lê Minh Ngọc, nhìn quanh từ nhà đến sân, đâu đâu cũng thấy những chiếc bình, chiếc lọ “khủng”, cái nhỏ nhất cũng cao quá nửa mét. Trong khu lò nung vẫn còn ngổn ngang “xác” của 3 chiếc bình bị hỏng kia.

Trong góc nhà, chiếc bình cao 3,4m nổi bật khi đứng cạnh cặp chóe và một chiếc bình cao 2m khác. Vợ chồng anh Ngọc vui mừng “khoe”: “Mình muốn được xác lập kỷ lục này trong năm nay, nhân dịp 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, thì sẽ rất có ý nghĩa. Hôm qua, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã thông báo lại, bảo mình gửi thông tin và hình ảnh kèm theo đơn đề nghị để họ xem xét rồi”.

Ngoài chiếc bình này, vợ chồng anh Ngọc còn đang sở hữu một chiếc chóe cao tới 2,4m mà theo anh là cao nhất Việt Nam hiện nay. “Sắp tới mình sẽ làm tiếp đề nghị xác nhận chiếc chóe này đạt kỷ lục Việt Nam” - anh tự hào nói.
Theo dantri.com.vn
Website: Pottery & Ceramic

Từ khóa mới

Được tạo bởi Blogger.
Like us on Facebook
Follow us on Twitter
Recommend us on Google Plus
Subscribe me on RSS

thép hình - thép ray - Thép ống - Thép tấm

Công ty FaceSEO tại HCM chuyên đào tạo & dịch vụ SEO.